Rối loạn tiền đình cần điều trị triệt để     Bệnh viện Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh ký hợp đồng với Trung tâm quản lý đường cao tốc Hồ Chí Minh - Trung lương    Hội nghị Cục Y Tế Giao thông vận tải năm 2010    Xử trí cấp cứu tai nạn trên đường dẫn vào đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh-Trung lương    Mít tinh chào mừng 27/2/2010, Giao ban y tế cơ sở lần 1 năm 2010   
Liên kết website
Đối tác
Y học

 

 

Còn nhiều quan niệm chưa thống nhất

Progesteron là hormon luôn có vai trò trong thai nghén và chu kỳ kinh nguyệt. Hàng tháng, nồng độ progesteron tăng lên sau khi rụng trứng để chuẩn bị cho nội mạc tử cung mang thai.

Bổ sung progesteron trong điều trị sảy thai
Còn nhiều quan niệm chưa thống nhất

 

Progesteron là hormon luôn có vai trò trong thai nghén và chu kỳ kinh nguyệt. Hàng tháng, nồng độ progesteron tăng lên sau khi rụng trứng để chuẩn bị cho nội mạc tử cung mang thai. Trong chu kỳ kinh nguyệt không dẫn đến có thai, nồng độ progesteron tăng lên sau khi rụng trứng và giảm dần cho tới khi người phụ nữ có kỳ kinh kế tiếp.

Khi chu kỳ kinh dẫn đến có thai thì nồng độ progesteron được duy trì ở mức cao và trong hầu hết thời gian 3 tháng đầu của thai nghén, buồng trứng sản xuất ra phần lớn progesteron nhưng sau đó khoảng tuần thứ 10 của thai nghén thì nhau thai đã thay thế để sản xuất ra progesteron. Vì progesteron có vai trò trong việc duy trì lớp nội mạc tử cung, cho nên một số nhà nghiên cứu cho rằng nồng độ progesteron thấp trước khi sảy thai chắc hẳn phải có vai trò gây ra sự cố này.

Nhưng bổ sung progesteron có thực sự phòng ngừa được sảy thai hay không vẫn còn là đề tài đang bàn luận.

- Cho tới thời điểm này, không có tổ chức y học nào khuyến cáo cần bổ sung progesteron cho phụ nữ có vấn đề ở giai đoạn hoàng thể hay bị sảy thai liên tiếp trừ khi đang được công nghệ sinh sản hỗ trợ, ví dụ như đang thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).

- Cũng không có nghiên cứu khoa học nào đưa ra bằng chứng khẳng định bổ sung progesteron phòng ngừa được sảy thai cho những phụ nữ không dùng các phương pháp sinh sản nhân tạo.

- Hầu hết các nghiên cứu đều không thấy sự khác biệt giữa những phụ nữ có bổ sung progesteron và không bổ sung. Một vài nghiên cứu đưa ra bằng chứng rằng, bổ sung progesteron có lợi cho phụ nữ đã từng bị sảy thai tái diễn nhưng số liệu còn quá ít để coi các kết luận đó có ý nghĩa. Do đó còn cần nghiên cứu thêm mới có thể biết bổ sung progesteron có lợi hay không có lợi. 

- Golstein và cộng sự đã xem xét bằng chứng về kết quả tiến triển của thai sau khi điều trị hormon thấy: không có bằng chứng cho thấy progesteron làm giảm nguy cơ sảy thai... và hiệu quả bảo vệ của progesteron trong sảy thai tự nhiên liên tiếp chưa đủ để đánh giá. Vì vậy, hướng điều trị là không làm gì cả, không điều trị một cách thông lệ bằng progesteron.

- Nồng độ progesteron thấp chắc chắn có liên quan đến sảy thai nhưng vì sao thì vẫn còn nhiều tranh cãi. Một mặt, về lý thuyết, nồng độ progestron quá thấp có thể gây sảy thai nếu tử cung chưa được chuẩn bị sẵn sàng để mang thai, có lẽ vì buồng trứng có vấn đề nên không sản xuất đủ progesteron.

- Mặt khác, nhiều thầy thuốc tin rằng, nồng độ progesteron thấp chỉ có nghĩa là đe dọa sảy thai nhưng do những nguyên nhân khác. Với quan niệm này, nồng độ progestron thấp là dấu hiệu đầu tiên cho thấy cơ thể đang chuẩn bị để đẩy ra một thai nghén không phát triển được vì những lý do như có bất thường về thể nhiễm sắc ở thai đang phát triển và sự bổ sung progesterone chẳng có ích lợi gì. Vẫn  chưa có câu trả lời thoả đáng và vẫn còn là vấn đề bàn luận.

- Progesteron là thuốc có thể chuyển hoá thành androgen (hormon nam tính hóa) và ảnh hưởng đến những thai nhi có cặp NST XX (giới tính gen học của thai gái).  Nếu đúng vào thời điểm biệt hoá giới thì cơ quan sinh dục của thai sẽ bị nam tính hóa với những biến đổi từ âm vật to ra cho đến phát triển thành một dương vật đầy đủ và dính các môi lớn, môi nhỏ trong khi vẫn có buồng trứng và tử cung hoặc cả vòi trứng; trong những trường hợp nặng của tiến trình nam tính hóa thì không có âm đạo hoặc cổ tử cung... Sự nam tính hóa chỉ xảy ra trong đời sống tử cung và chức năng nội tiết của thai không thay đổi, nghĩa là hiện tượng nữ hoá vào tuổi dậy thì vẫn diễn ra do buồng trứng vẫn hoạt động bình thường. Nói một cách khác, những thai có cặp NST XX bị nam tính hoá bởi hormon ngay từ trong tử cung vẫn có thể sinh ra với kiểu hình giới hoặc là "nữ có âm vật to" hoặc là "nam nhưng không có tinh hoàn". Một số nghiên cứu cho thấy, dùng hàng tuần progesteron (17 alpha-hydroxy progesteron caproate hay còn gọi là “17P”) từ tuần 16 đến tuần 20 ở phụ nữ có tiền sử đẻ non với liều 125-250mg tiêm bắp có thể giảm được cơ may đẻ non ở những lần thai nghén sau đến 33%. Tiến trình biệt hóa giới thường diễn ra quanh tuần thứ 7 của thai nghén, nên việc dùng progesteron vào thời điểm này có nguy cơ gây ra sự cố giới không rõ ràng ở thai nhi.

Tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến khác về bổ sung progesteron:

- Bổ sung progesteron đem lại kết quả tốt cho những trường hợp sảy thai tái diễn và tin tưởng progesteron thực sự có tác dụng.

- Không có bằng chứng để ủng hộ cho việc sử dụng một cách thông lệ progesteron nhằm phòng ngừa sảy thai sớm hay muộn (khoảng trên 4 tháng) nhưng hình như những phụ nữ có tiền sử sảy thai tái diễn thì có thể có lợi (bằng chứng là tỷ lệ sảy thai liên tiếp giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm được điều trị so với nhóm dùng viên thuốc vờ hay không điều trị gì. Giữa nhóm được điều trị và nhóm đối chứng không cho kết quả có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tác dụng phụ cho mẹ và cho con.

- Chỉ bổ sung khi nồng độ progesteron thực sự thấp (giảm dưới 30nmol/l). Nhưng nhiều ý kiến cho rằng, những nghiên cứu hiện nay không phân biệt rõ phụ nữ có nồng độ progesteron thấp với những phụ nữ đã từng sảy thai tái diễn vì những lý do khác và bổ sung progesteron cho những trường hợp nồng độ thâp là vô thưởng, vô phạt. 

                                                                          BS. Xuân Anh

 

 

 

 

 

Điều trị các rối loạn thời kỳ mãn kinh:
cập nhật kiến thức mới

 

 

 ThS. BS.Tạ Thị Thanh Thủy

BV. Hùng Vương TP.HCM

 

 

Đôi dòng lịch sử

 

 

Từ những năm 1980, số phụ nữ sử dụng liệu pháp nội tiết thay thế trong thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh đã gia tăng một cách đáng kể. Trong một nghiên cứu tiền cứu (1) người ta thấy:

• Từ 1925-1944 có 16% số phụ nữ mãn kinh dùng liệu pháp nội tiết thay thế.

• Từ 1990-1992 thì con số này đã lên đến 46%.

Từ năm 2002, tổ chức World Health Itiative (WHI) chứng minh trong nghiên cứu của mình là liệu pháp nội tiết thay thế có hại nhiều hơn lợi. Ngay sau đó số lượng sản phẩm nội tiết tiêu thụ hằng năm giảm xuống hơn 30%.

Bài viết này sẽ đưa ra những phân tích về lợi/hại của liệu pháp nội tiết thay thế, đồng thời nêu lên những biện pháp khắc phục.

 

 

Quá trình phát triển của liệu pháp nội tiết thay thế

 

 

Estrogen được sử dụng rộng rãi từ 1930 nhằm làm giảm những triệu chứng khó chịu của thời kỳ mãn kinh. Đến giữa năm 1970, progesteron được bổ sung vào công thức điều trị nhằm làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Sự kết hợp này được biết đến như công thức chuẩn trong điều trị liệu pháp nội tiết thay thế. Trong những năm 1980, dựa trên nhiều nghiên cứu dịch tễ học, người ta cho rằng liệu pháp estrogen thay thế (ERT) và liệu pháp nội tiết thay thế (HRT) đều có tác dụng ngăn ngừa nhiều rối loạn mạn tính liên quan đến tuổi già bao gồm bệnh lý tim mạch và loãng xương. Dựa trên những kết quả này, nhiều tác giả đã đề nghị tất cả phụ nữ ở tuổi mãn kinh nên dùng ERT hoặc HRT để phòng ngừa các rối loạn như trên.

Sau đó nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện. Kết quả nghiên cứu tương quan giữa bệnh tim mạch và thuốc (HER1 và HER 2) cho thấy không có sự bảo vệ nào đối với bệnh tim mạch như trước đây vẫn lầm tưởng. Qua đó Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo không nên sử dụng HRT/ERT trong điều trị dự phòng bệnh lý tim mạch, cho đến khi có bằng chứng ngược lại. Tiếp theo sau đó, nghiên cứu thực nghiệm trên phụ nữ khỏe mạnh của WHI về tác dụng lợi/hại của liệu pháp nội tiết thay thế đã phải chấm dứt giữa chừng vì tác hại của thuốc. Kết quả nghiên cứu của WHI cho thấy sau 5,2 năm sử dụng HRT thì nguy cơ tác hại sức khỏe đã vượt quá lợi ích do thuốc mang lại. Tác hại bao gồm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư vú, đột quỵ, và thuyên tắc động mạch phổi.

Tuy nghiên cứu của WHI còn nhiều điểm hạn chế, tuy nhiên do tác hại của thuốc quá rõ ràng nên nhiều tác giả đã đồng ý rằng ERT và HRT không nên dùng để điều trị dự phòng bệnh tim mạch và đề nghị rút ngắn thời gian điều trị thuốc hơn trước.

 

 

Ích lợi của liệu pháp nội tiết thay thế đối với các rối loạn ở thời kỳ mãn kinh

 

 

Bốc hỏa:

 

 

Những sản phẩm uống, qua da hoặc vòng âm đạo được chứng minh làm giảm khoảng 80% những cơn bốc hỏa. Những estrogen dạng kem có độ hấp thu toàn thân khoảng 4% nên không có tác dụng trên những triệu chứng toàn thân như bốc hỏa. Trong một tổng quan, Shanafelt đã kết luận rằng tác dụng trên hệ vận mạch chủ yếu là do estrogen - với liều cao thì hiệu quả hơn. Progestin không có tác dụng khi kết hợp với estrogen liều tiêu chuẩn, nhưng một nghiên cứu thực nghiệm gần đây chứng minh rằng nếu kết hợp với estrogen liều thấp thì lại có tác dụng giảm bốc hỏa. Như vậy việc kết hợp progestin trong công thức estrogen liều thấp (estrogen liên hợp CEE < 0,625 mg) cũng làm tăng tác dụng điều trị giống như công thức estrogen liều tiêu chuẩn (CEE 0.625 mg).

Có sự đáp ứng giữa liều lượng estrogen và triệu chứng bốc hỏa. Các nghiên cứu chứng minh khi liều lượng estrogen càng cao thì tác dụng trên hệ vận mạch càng mạnh. Tuy nhiên những tác dụng ngoại ý cũng tăng theo liều estrogen như căng vú, tăng sinh nội mạc tử cung và xuất huyết âm đạo bất thường.

Một lựa chọn khác cho việc điều trị triệu chứng bốc hỏa là sử dụng công thức progestin đơn thuần. Depo medroxyprogesteron acetat, megestrol acetat và progesteron dạng kem bôi ngoài cũng được chứng minh làm giảm triệu chứng đến 80 – 90% trường hợp. Tuy vậy công thức này cũng không được sử dụng rộng rãi vì tính an toàn của nó: có thể tăng nguy cơ thuyên tắc mạch và cũng có thể tăng nguy cơ ung thư vú.

 

 

Mất ngủ:

 

 

Từ lâu HRT được cho là có tác dụng làm cải thiện giấc ngủ bằng cách làm giảm tần suất và độ nặng của những cơn bốc hỏa. Một nghiên cứu gần đây trên 63 bệnh nhân mãn kinh đã xác định tác dụng này, nhưng đồng thời cũng cho thấy ERT cải thiện chất lượng giấc ngủ độc lập với tác dụng làm giảm triệu chứng vận mạch. Tuy nhiên một nghiên cứu trên 62 bệnh nhân với việc phân tích giấc ngủ thì người ta thấy không có sự khác nhau về thời gian ru giấc ngủ, các giai đoạn của giấc ngủ, hiệu quả của giấc ngủ hoặc tổng thời gian ngủ giữa 2 nhóm có điều trị ERT và giả dược. Như vậy có lẽ ERT cải thiện giấc ngủ nhờ tác dụng làm giảm thiểu sự thức giấc nửa đêm, chứ không phải thay đổi chất lượng giấc ngủ hoặc khả năng ru vào giấc ngủ.

 

 

Rối loạn niệu dục:

 

 

Khô âm đạo, đau khi giao hợp và viêm ngứa là những than phiền của hầu hết những phụ nữ thời kỳ tiến mãn kinh và mãn kinh. Các triệu chứng thường được cải thiện khi sử dụng các sản phẩm estrogen tại chỗ như vòng âm đạo, kem hoặc viên đặt. Đó chính là HRT được lựa chọn khi có những rối loạn tại vùng âm đạo. Mặc dù tất cả sản phẩm HRT tại chỗ đều cho tác dụng tương đương nhau, nhưng chúng lại không được sự chấp thuận đồng đều của người sử dụng. Thêm vào đó, chúng có tác dụng khác nhau đối với nội mạc tử cung. Trong một nghiên cứu so sánh 17β estradiol 25 mg viên đặt âm đạo (Vagifem) với estrogen liên hợp (CEE: conjugated equine estrogen) dạng kem 1,25 mg/ngày - cả 2 sản phẩm cho cùng tác dụng cải thiện những khó chịu âm đạo. Tuy nhiên dùng kem CEE liều cao hơn lại ít được bệnh nhân chấp nhận sử dụng và gia tăng đáng kể nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung. Trên lâm sàng, nhiều phụ nữ dùng CEE liều thấp hơn 1,25 mg, nhờ vậy ít bị nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung.

Vòng âm đạo dường như dễ được chấp nhận hơn dạng kem. Trong một nghiên cứu so sánh vòng âm đạo và kem CEE 0.625 mg: dạng vòng được đánh giá “tốt” trong 84% số phụ nữ so với 43% ở dạng kem. Dạng vòng cũng ít gây tăng sinh nội mạc tử cung hơn dạng kem CEE.

Liều lượng ERT tại chỗ để điều trị triệu chứng niệu dục cũng chưa xác định. Các nghiên cứu dùng 2 khái niệm chính để đánh giá hiệu quả điều trị: (1) chỉ số trưởng thành âm đạo được đánh giá qua Pap’s smear, và (2) sự cải thiện các triệu chứng khó chịu (ngứa, khô âm đạo, giao hợp đau. Liều cao estrogen giúp cải thiện tế bào âm đạo nhanh và hoàn hảo hơn, nhưng có khi liều thấp cũng đủ cải thiện các triệu chứng khó chịu mà đem lại an toàn hơn đối với ung thư nội mạc tử cung. Thí dụ một nghiên cứu trên 7 phụ nữ sử dụng kem Estrace (estradiol): liều khuyến cáo của nhà sản xuất là 100 – 400 mcg/ngày. Tuy nhiên với liều 10 mcg/ngày cũng đủ làm giảm 80% triệu chứng mà không gây nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung. Vòng âm đạo với liều 2 mg cũng đủ làm giảm triệu chứng và chỉ gây tăng sinh nội mạc tử cung ở mức tối thiểu. Đối với CEE, chỉ cần liều 0,3 mg/ngày cũng đủ làm thay đổi tế bào âm đạo, nhưng phải cần liều 1,25 mg/ngày mới đủ làm giảm triệu chứng khó chịu tại âm đạo.

Đường sử dụng khác của HRT cũng cho tác dụng trên những triệu chứng ở âm đạo nhưng không tốt bằng. Có nhiều nghiên cứu cho kết quả khác nhau về liều dùng hữu hiệu của estrogen đường toàn thân. Nói chung cho đến nay vẫn chưa có đủ dữ kiện để có được liều tiêu chuẩn, dạng thuốc thích hợp cũng như thời gian sử dụng thuốc nhằm điều trị những khó chịu tại âm đạo.

HRT cũng có tác dụng làm giảm một ít triệu chứng đường tiểu, Bachman chứng minh rằng những sản phẩm ERT cho tác dụng giảm triệu chứng tiểu khó và tiểu gấp. Tác dụng của HRT đối với tiểu không kiểm soát chưa được chứng minh rõ ràng và tác dụng này thay đổi tùy theo dạng thuốc sử dụng.

 

 

Điều trị các rối loạn thời kỳ mãn kinh không dùng nội tiết

 

 

Bốc hỏa

 

 

Do các thuốc điều trị nội tiết gây nhiều nguy cơ nên các nhà nghiên cứu đã đi tìm những loại thuốc khác không phải nội tiết để điều trị những khó chịu này. Loại thuốc mới nhất được ưa chuộng là những chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) do có nhiều hứa hẹn trong tác dụng làm giảm những triệu chứng rối loạn vận mạch. Effexor (venlafaxine) Prozac (fFluoxetine) và Paxil (paroxetine) là những chất có tác dụng làm giảm có ý nghĩa các triệu chứng bốc hỏa trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng. Trong đó, Effezor và Paxil dường như mang lại hiệu quả nhiều hơn. Hiệu quả này đạt được khi sử dụng với liều Effexor 75 mg/ngàym Paxil 25 mg/ngày và Paxil CR 12,5 mg đến 25 mg/ngày. Nghiên cứu bước đầu trên Zoloft (sertaline) cho thấy không có tác dụng tốt hơn nhóm già được.

Một số các biện pháp khác cũng được đề cập như thảo dược và chế độ ăn uống nhưng chỉ cho tác dụng giới hạn trong việc làm giảm triệu chứng bốc hỏa như vitamin E hoặc một loại dược thảo của vùng Đông Bắc Mỹ (black cohosh) trộn với đậu nành. Mặt khác, sự thư giãn cũng có ích lợi trong việc điều trị cơn bốc hỏa.

 

 

Mất ngủ

 

 

Phụ nữ cần sự giúp đỡ nhằm cải thiện giấc ngủ trong thời kỳ tiền mãn kinh nên quan tâm đến việc sử dụng những loại dược thảo, chế độ ăn uống, tập thể dục, hoặc việc thay đổi thói quen sinh hoạt hằng ngày. Tất cả những biện pháp trên đây thật sự hữu ích cho những người mất ngủ nói chung chứ không riêng gì cho những phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh.

Valerian và tryptophan từ lâu được khuyến cáo sử dụng để hỗ trợ giấc ngủ. Tryptophan dường như khá an toàn cho người sử dụng, nhưng không nên dùng chung với các loại SSRI hoặc các chất ức chế monoamin oxidase do có nguy cơ gây nên hội chứng serotonin. Valerian cũng được chứng minh khá an toàn và không gây hiện tượng tích tụ thuốc. Valerian được trích tinh từ một loại rễ cây, làm thành dạng trà, bột, đông khô hoặc viên nang. Nghiên cứu gần đây chứng minh rằng dùng valerian đông khô 270 – 600 mg/ngày trong 2-4 tuần sẽ cải thiện giấc ngủ. Tuy nhiên cần có thêm nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.

 Các thảo dược khác như chamomile, passion flower, lemon balm, lavender, catnip và skull cap cũng được giới thiệu có tác dụng an thần nhưng hầu hết chưa được chứng minh qua thử nghiệm lâm sàng.

Có rất ít nghiên cứu đánh giá tác dụng của việc luyện tập thân thể đối với giấc ngủ, nhưng cũng có vài nghiên cứu ủng hộ ý kiến cho rằng tập luyện thân thể cải thiện được giấc ngủ bằng cách tăng tổng thời gian ngủ và giảm thời gian ru vào giấc ngủ. Để gia tăng tối đa lợi ích của việc tập thể dục đối với giấc ngủ, từng cá nhân phải được tham vấn rằng thời gian tập quan trọng hơn cường độ tập, và việc luyện tập nên được thực hiện trước khi đi ngủ từ 5 đến 6 giờ (tối thiểu 3 giờ).

Phương pháp điều trị mất ngủ hay nhất là luyện tập thói quen ngủ (bảng 1). Mục đích điều chỉnh những kiểu ngủ không thích hợp bằng cách chỉ dành thời gian nằm trên giường để ngủ, tạo giấc ngủ đều đặn và luyện tập thân thể. Đồng thời khuyến khích thực hành lối sống tốt nhằm tạo giấc ngủ hiệu quả.

 

 

Các rối loạn niệu dục

 

 

Phụ nữ bị khô âm đạo có thể sử dụng một loại thuốc không phải nội tiết. Nhiều nghiên cứu chứng minh tác dụng của Replens tương đương với estrogen dạng kem trong vấn đề cải thiện phết tế bào âm đạo hoặc triệu chứng khó chịu tại chỗ. Một loại khác cũng được sử dụng để điều trị, đó là KY jelly. Replen có thời gian tạo ẩm lâu hơn và pH âm đạo cũng thấp hơn, đồng thời cũng được sự ưa chuộng của phụ nữ nhiều hơn so với KY jelly (62% so với 25%).

 

 

Phương thức luyện tập giấc ngủ

  
Nên làm

Không nên làm

Chỉ dùng giường để sinh hoạt tình dục và ngủ Ngủ lắt nhắt ban ngày
Chỉ vào giường khi buồn ngủ Không dùng cà phê/ thuốc là 4-6 giờ trước khi ngủ
Nếu sau 15-20 phút không ngủ được thì nên ra khỏi giường và trở lại khi buồn ngủ Không uống rượu quá 2 giờ trước khi ngủ
Duy trì giờ thức giấc cố định không kể thời gian ngủ nhiều hay ít Không nên ăn trước khi ngủ ít hơn 2 giờ
Tập thể dục trước khi ngủ ít nhất 3 giờ
  
 
Tập thói quen đều đặn trước khi vào giường ngủ
  
 
“Quẳng” đồng hồ đi chỗ khác để khỏi biết giờ
  
 

   


  

Phụ nữ bị tiểu không kiểm soát cũng có thể sử dụng kỹ thuật luyện tập thói quen. Một nghiên cứu trong đó phụ nữ được luyện tập bàng quang 6 tuần, số phụ nữ trong nhóm điều trị có giảm 50% triệu chứng so với nhóm giả dược chỉ có 15%.

 

 

Tăng cường tính an toàn

 

 

Mặc dù HRT gây nhiều nguy cơ cho phụ nữ nhưng không thể phủ nhận vai trò của nó trong điều trị những rối loạn thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh. Không có bất kỳ một sản phẩm nào có thể bền vững và hoàn hảo trong điều trị những rối loạn này như là HRT. Tuy nhiên để tăng cường tối đa tính an toàn của HRT khi sử dụng, chúng ta cần quan tâm đến những điểm sau:

1) Sử dụng liều estrogen thấp nhất có thể được, chỉ đủ làm những triệu chứng khó chịu. Những sản phẩm estrogen liều thấp ngày nay được sản xuất rất nhiều. Tuy nhiên, khi sử dụng liều thấp người phụ nữ sẽ thấy đáp ứng khá chậm, vì vậy cần phải có thời gian lâu hơn để đạt được lợi ích tối đa khi điều ttrị.

2) Việc sử dụng thêm progestin cũng cần bàn cãi. Trong một nghiên cứu sử dụng MPA 1,5 mg với CEE 0.3 mg cho tác dụng tương đương với liều tiêu chuẩn (CEE 0.625 mg/MPA 2,5 mg). Thêm vào đó, việc gia tăng liều lượng progestin cũng đi đôi với nguy cơ ung thư vú. Đồng thời ung thư vú cũng liên quan đến estrogen vì vậy việc giảm liều cả hai là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ ung thư vú.

3) Nếu chỉ làm giảm triệu chứng tại âm đạo hay đường tiểu thì nên dùng ERT tại chỗ hơn là dạng uống. Do có hiện tượng giảm thiểu hấp thu từ đường toàn thân nên ERT tại chỗ sẽ giảm thiểu nguy cơ đột quỵ, ung thư vú, và có thể sẽ không cần bổ sung progestin để ngăn ngừa tăng sinh nội mạc tử cung nếu dùng estrogen liều thấp.

4) Đối với việc dùng progestin, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nếu dùng progestin mỗi 4 đến 6 tháng sẽ giảm được nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung và ung thư vú mà vẫn có tác dụng tương tự như chế độ sử dụng progestin hàng tháng. Thêm vào đó người ta cũng đặt vấn đề có nên sử dụng progestin bổ sung cho chế độ điều trị estrogen cực thấp hay không?

5) Thời gian sử dụng ERT: Theo kết quả nghiên cứu của WHI, nguy cơ ung thư vú dường như không tăng nếu như thời gian dùng dưới 5 năm. Do đa số những rối loạn thời kỳ mãn kinh thường xảy ra trong vòng 5 năm đầu sau mãn kinh, nên thời gian dùng ngắn hơn 5 năm được khuyến khích sử dụng.

6) Việc chọn lựa loại progestin: Trong một sự nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiều dạng HRT lên sự biến đổi lipid, tác giả chứng minh CEE kết hợp với cyclic micronized progesteron có liên quan đến biến đổi lipid tốt nhất. Thêm vào đó, cyclic micronized progesteron và norethin-dron acetat có tác dụng phụ ít hơn MPA. Cụ thể là ít căng vú hơn và ít ra huyết âm đạo hơn. Vì vậy nên dùng progestin không phải MPA để đạt sự an toàn cao hơn.

7) Sử dụng những thuốc không phải HRT: Trong những thuốc không phải HRT, loại SSRI, đặc biệt là Effexor và Paxil dường như đủ hiệu quả cải thiện rối loạn vận mạch. Replens có tác dụng giảm khô âm đạo hoặc giao hợp đau. Trong khi đó, tập luyện thay đổi nếp sinh hoạt thường ngày đủ tác dụng cho những rối loạn đường tiểu và rối loạn giấc ngủ. Tuy các nghiên cứu không đầy đủ, nhưng những thay đổi về ăn uống (như thêm vitamin E, black cohosh, hoặc đậu nành) ít nhiều cũng có tác dụng trên rối loạn thời kỳ mãn kinh và an toàn khi sử dụng.

 

 

Kết luận:

Mặc dù WHI cho thấy HRT không nên dùng để ngăn ngừa những bệnh mạn tính, HRT vẫn là phương pháp tốt nhất để điều trị những rối loạn thời kỳ mãn kinh. Thời gian dùng ngắn dưới 5 năm được khuyến cáo cho phụ nữ vì nguy cơ tuyệt đối rất ít. Thầy thuốc nên giúp đỡ phụ nữ có chọn lựa tốt nhất cho mình để giảm thiểu tối đa tác dụng bất lợi do điều trị gây ra.

 

 

Trích Thời sự Y học TP.HCM số tháng 9/2006
 

 


 


 
Tin nổi bật
Hoạt động đoàn thể
Khung cảnh làm việc
Chỉ đạo tuyến
Liên kết & Quảng cáo
Trang chủ l Danh sách các đơn vị l Sơ đồ đường đi l Liên hệ l Góp ý
CỤC Y TẾ GIAO THÔNG VẬN TẢI
BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: 72/3 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, Tp.HCM
Điện thoại: (84-8) 3820 1550 - 3820 7180
Visit:    19953   Copyright © 2009 Bệnh viện Giao Thông Vận Tải TP. HCM. Thiết kế bởi công ty TNHH CNTT Sáng tạo Việt.